Các dân tộc trên đất nước Việt Nam
Bài học phân loại cộng đồng dân tộc Việt Nam theo quy mô dân số, ngữ hệ và nhóm ngôn ngữ.
Hiểu bài
Khái niệm “dân tộc” được dùng theo hai nghĩa: dân tộc–quốc gia, chỉ toàn thể cư dân của một đất nước; và dân tộc–tộc người, chỉ cộng đồng người có những đặc điểm chung. Theo dân số, các dân tộc Việt Nam được chia thành dân tộc đa số và dân tộc thiểu số. Tư liệu quy định dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số cả nước; dân tộc thiểu số có số dân ít hơn dân tộc đa số. Số liệu Tổng điều tra năm 2019 ghi dân tộc Kinh có 82 085 826 người; một số dân tộc khác gồm Tày 1 845 492, Thái 1 820 950, Mường 1 452 095, Mông 1 393 547 và Khơ-me 1 319 652 người.
Ngữ hệ là nhóm ngôn ngữ cùng nguồn gốc, có nét giống nhau về ngữ pháp, từ vựng cơ bản, thanh điệu và ngữ âm. Hiện nay, 54 dân tộc được chia thành năm ngữ hệ và tám nhóm ngôn ngữ. Năm ngữ hệ là Nam Á, Thái–Ka-dai, Mông–Dao, Nam Đảo và Hán–Tạng; các nhóm gồm Việt–Mường, Môn–Khơ-me, Tày–Thái, Ka-dai, Mông–Dao, Ma-lay-ô–Pô-li-nê-di, Hán và Tạng–Miến.
Bảng dân số các dân tộc Việt Nam theo Tổng điều tra năm 2019 SGK trang 88
