Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh)
Tuyên ngôn Độc lập dùng nguyên lí phổ quát và sự thật lịch sử để bác bỏ chế độ thực dân, tuyên bố quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam.
Hiểu bài
Tuyên ngôn Độc lập
Văn bản mở đầu bằng việc dẫn những lẽ phải về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, rồi khẳng định đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi. Từ cơ sở pháp lí và đạo lí ấy, tác giả chuyển sang bác bỏ hành động của thực dân Pháp: dưới danh nghĩa tự do, bình đẳng, bác ái, họ đã cướp nước và áp bức nhân dân Việt Nam; về chính trị, họ không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào và còn chia ba chế độ ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản thống nhất, đoàn kết.
Văn bản đối chiếu sự tàn bạo ấy với thái độ khoan hồng, nhân đạo của nhân dân Việt Nam đối với người Pháp sau biến động ngày 9 tháng 3. Tác giả tiếp tục xác lập sự thật lịch sử: từ mùa thu năm 1940, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Nhật chứ không còn là thuộc địa của Pháp; nhân dân Việt Nam đã giành lại đất nước từ tay Nhật.
Tác phẩm ra đời vào thời điểm nhân dân vừa giành chính quyền nhưng đất nước đứng trước nhiều thách thức. Lập luận đi từ nguyên lí phổ quát đến chứng cứ lịch sử và lời tuyên bố, qua đó xác lập quyền độc lập, tự do cùng ý chí bảo vệ quyền ấy của toàn dân tộc.
Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội SGK trang 13
