Tế bào nhân sơ
Tế bào nhân sơ nhỏ, chưa có nhân hoàn chỉnh, cấu trúc đơn giản nhưng trao đổi chất và sinh sản nhanh.
Hiểu bài
Tế bào nhân sơ thường rất nhỏ, chỉ quan sát được bằng kính hiển vi. Kích thước điển hình khoảng 1–5 µm, xấp xỉ một phần mười tế bào nhân thực. Kích thước nhỏ tạo tỉ lệ $S/V$ lớn, giúp trao đổi chất với môi trường nhanh, từ đó hỗ trợ tốc độ chuyển hoá và sinh sản nhanh.
Đa số sinh vật nhân sơ là vi khuẩn và Archaea, thường đơn bào. Cấu tạo điển hình gồm màng tế bào, tế bào chất có ribosome, vùng nhân chứa DNA, thành tế bào; một số còn có màng ngoài, plasmid, lông và roi. Gọi là “vùng nhân” vì DNA không được bao bởi màng nhân.
Biểu đồ kích thước từ nguyên tử, amino acid, protein, virus đến lục lạp, vi khuẩn, tế bào động vật/thực vật và tế bào trứng ếch, kèm dải 'Kính hiển vi điện tử' và 'Kính hiển vi quang học'. SGK trang 44
Thành tế bào vi khuẩn chứa peptidoglycan. Một số kháng sinh ngăn tổng hợp thành tế bào, ức chế enzyme hoặc tác động vào ribosome. Vi khuẩn có thể kháng thuốc bằng cách bơm thuốc ra ngoài, giảm độ thấm, biến đổi phân tử đích hoặc tạo enzyme bất hoạt thuốc.
